Một số điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Ngày 23/8/2026, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước, Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2027. Luật có những điểm mới quan trọng góp phần hoàn thiện thể chế về trách nhiệm bồi thường của nhà nước, đồng bộ với hệ thống pháp luật và tổ chức bộ máy nhà nước sau sắp xếp, phù hợp với việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp; đồng thời, khắc phục những khó khăn, vướng mắc đã được đánh giá, nhận diện rõ trong thực tiễn, bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời nâng cao chất lượng thi hành công vụ của cơ quan nhà nước, cụ thể như sau:

 

1. Nguyên tắc áp dụng pháp luật

Đây là một trong những điểm mới mang tính nền tảng nhất của lần sửa đổi này, cụ thể: “Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trường hợp Quốc hội có quy định khác về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực quy định tại Điều 1 của Luật này”. Quy định này nhằm xác lập rõ nguyên tắc áp dụng pháp luật, bảo đảm tính linh hoạt, kịp thời trong xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trước yêu cầu đổi mới quản trị quốc gia và thực tiễn phát sinh trong các lĩnh vực đặc thù. Theo đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tiếp tục giữ vai trò là luật khung nhưng không “đóng khung” phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tạo cơ chế để Quốc hội kịp thời quyết định vấn đề này tại luật chuyên ngành, hạn chế khoảng trống pháp lý và tránh tình trạng thường xuyên phải sửa đổi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Bên cạnh đó, Luật sửa đổi khoản 2, khoản 4 Điều 4 và điểm c khoản 2 Điều 7 để bảo đảm sự công bằng, thống nhất trong cơ chế lựa chọn cơ quan giải quyết bồi thường của người yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, bảo đảm tối đa quyền của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại.

2. Về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

Để kịp thời thể chế hóa Quy định số 231-QĐ/TW ngày 17/01/2025 của Bộ Chính trị về bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, Luật bổ sung quyền được Nhà nước bồi thường cho người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và người thân của họ khi cơ quan có thẩm quyền không áp dụng, áp dụng không kịp thời hoặc không đúng biện pháp bảo vệ gây thiệt hại (tại khoản 6 Điều 17 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước), đồng thời, bổ sung giải thích từ ngữ tại Điều 3 và cơ quan giải quyết bồi thường tương ứng tại khoản 6 Điều 33 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để đồng bộ với quy định bổ sung này. Đây là điểm mới nhân văn và đáp ứng yêu cầu chủ trương, đường lối của Đảng về tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Bên cạnh đó, Luật bổ sung một số hành vi làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính để khắc phục vướng mắc trong thực tiễn, như hành vi “hủy bỏ” giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép (tại khoản 8 Điều 17), hành vi “không cấp” Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất trái pháp luật (tại khoản 11 Điều 17). Đồng thời, nhiều nội dung được chỉnh lý để bảo đảm thống nhất, đồng bộ với văn bản luật có liên quan, như: Luật Quản lý xử lý vi phạm hành chính, Luật Đất đai, Luật Tố tụng hành chính, ...

3. Bổ sung khái niệm về đối tượng tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực

Luật đã bổ sung các đối tượng trong trường hợp tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực như sau:

Người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là cá nhân thực hiện việc phản ánh, tố cáo, tố giác hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao, trong quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công.

Người thân của người tố cáo, người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (sau đây gọi là người thân) gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi.

4. Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường

Đây là nhóm nội dung được sửa đổi nhiều nhất, thể hiện sự nghiêm túc, quyết liệt trong việc thực hiện chủ trương cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính và đẩy mạnh chuyển đổi số.

Theo đó, người yêu cầu bồi thường chỉ cần nộp văn bản yêu cầu bồi thường, còn văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường sẽ do cơ quan giải quyết bồi thường tự cung cấp hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước khác cung cấp. Đồng thời, Người dân được lựa chọn gửi yêu cầu bồi thường qua nhiều hình thức phù hợp với khả năng, điều kiện thực tế: môi trường số, trực tiếp tại cơ quan hoặc Bộ phận Một cửa hoặc qua dịch vụ bưu chính.

Về thời gian giải quyết bồi thường, nhiều mốc được rút ngắn đáng kể: thời hạn kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ và thời hạn thụ lý, cử người giải quyết đều còn 02 ngày làm việc (Điều 42, Điều 43). Đồng thời, để bảo đảm chất lượng giải quyết đối với vụ việc phức tạp, thời gian xác minh thiệt hại và thời gian thương lượng được phép kéo dài theo thỏa thuận giữa các bên và không tính vào thời hạn giải quyết (Điều 45, Điều 46). Một điểm tiến bộ về bảo vệ quyền của người dân là bỏ nghĩa vụ chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và thiệt hại - đây là trách nhiệm của cơ quan nhà nước; người yêu cầu bồi thường chỉ có nghĩa vụ phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu (điểm c khoản 2 Điều 13).

Một điểm mới đáng chú ý là Luật quy định cơ quan giải quyết bồi thường ban hành quyết định giải quyết bồi thường kể cả trường hợp thương lượng không thành, thể hiện trách nhiệm “đến cùng” của cơ quan nhà nước đối với người yêu cầu bồi thường. Bên cạnh đó, Luật xác định rõ thương lượng là quyền của các bên chứ không phải thủ tục bắt buộc. Trường hợp người yêu cầu bồi thường không tham gia thương lượng sau khi đã được mời, cơ quan giải quyết bồi thường vẫn ban hành quyết định giải quyết bồi thường theo Điều 47 thay vì đình chỉ như trước. Luật cũng tăng mức tạm ứng kinh phí từ “không dưới 50%” lên “không dưới 75%” giá trị thiệt hại (Điều 44); kéo dài thời điểm có hiệu lực của quyết định giải quyết bồi thường và thời hạn khởi kiện ra Tòa án từ 15 ngày lên 60 ngày, đồng thời cho phép các bên thỏa thuận để quyết định có hiệu lực sớm hơn (Điều 47, Điều 52); bổ sung quyền rút yêu cầu trước khi quyết định có hiệu lực (Điều 51) và quyền đề nghị giám định thiệt hại (Điều 13, Điều 45). Các nội dung mang tính nghiệp vụ, kỹ thuật được giao Chính phủ quy định chi tiết để bảo đảm tính ổn định của Luật.

5. Về việc xem xét trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ

Cùng với việc giữ nguyên tắc buộc người thi hành công vụ có lỗi phải hoàn trả theo mức độ lỗi, Luật bổ sung cơ chế giảm mức hoàn trả, miễn trách nhiệm hoàn trả đối với cán bộ, công chức thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo trong hoạt động công vụ để bảo đảm thể chế hóa đầy đủ chủ trương của Đảng và Nhà nước về khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

Theo đó, Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định giảm mức hoàn trả nhưng tối đa là 30% trên tổng số tiền phải hoàn trả khi người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương, phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không vụ lợi và đã chủ động phòng ngừa, khắc phục tối đa hậu quả; (2) Chủ động khắc phục hậu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và đã hoàn trả được ít nhất 50% số tiền phải hoàn trả.

Đặc biệt, Luật bổ sung trường hợp Thủ trưởng cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại quyết định miễn hoàn trả khi người thi hành công vụ gây thiệt hại do lỗi vô ý, chủ động khắc phục hậu quả, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trong quá trình giải quyết yêu cầu bồi thường và thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo theo đúng chủ trương, phương án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, không vụ lợi, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội; (2) Mắc bệnh hiểm nghèo và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật; (3) Lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn; (4) Lập công lớn được người, cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

Đây là những điểm mới tiến bộ, góp phần thúc đẩy tinh thần dám nghĩ, dám làm của đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời vẫn bảo đảm tính nghiêm minh và công bằng trong quá trình xem xét trách nhiệm khi vi phạm công vụ.

Luật cũng khắc phục vướng mắc thực tiễn khi bổ sung trường hợp Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả không xác định được đầy đủ các nội dung (những người thi hành công vụ gây thiệt hại, mức độ lỗi của người thi hành công vụ gây thiệt hại, trách nhiệm hoàn trả, mức hoàn trả của từng người) thì có văn bản kiến nghị Thủ trưởng cơ quan đã chi trả tiền bồi thường quyết định.

6. Lập dự toán, quyết toán kinh phí bồi thường và chi trả tiền bồi thường

Các Điều 60, 61 và 62 của Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước đã được sửa đổi để khắc phục tình trạng bị động trong lập dự toán và rườm rà trong cấp phát kinh phí bồi thường.

Luật xác định rõ Nhà nước bảo đảm hai loại kinh phí: kinh phí cho công tác quản lý nhà nước về bồi thường nhà nước; và kinh phí chi trả cho người bị thiệt hại kèm chi phí định giá tài sản, giám định thiệt hại. Nguồn kinh phí được bố trí theo cấp ngân sách tương ứng với cơ quan (ngân sách trung ương hoặc ngân sách địa phương) nhằm phù hợp với pháp luật về ngân sách nhà nước. Việc bổ sung quy định về kinh phí cho hoạt động quản lý nhà nước là điểm mới quan trọng, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh quản lý nhà nước về công tác này nhằm mục tiêu cốt lõi là phòng ngừa hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ chứ không phải tập trung giải quyết vụ việc.

Hằng năm các cơ quan nhà nước lập dự toán kinh phí thực hiện công tác bồi thường theo pháp luật về ngân sách nhà nước; kết thúc năm ngân sách, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có trách nhiệm quyết toán.

Rút ngắn thủ tục chi trả tiền bồi thường: trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ khi quyết định giải quyết bồi thường hoặc bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết yêu cầu bồi thường có hiệu lực, cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường về việc chi trả tiền bồi thường; trong 02 ngày làm việc tiếp theo phải thực hiện việc chi trả tiền bồi thường. Đồng thời bãi bỏ Điều 63 quy định về quyết toán kinh phí bồi thường.

7. Điều khoản chuyển tiếp

Đây là điểm mới giàu tính nhân văn của Luật. Theo đó, đối với yêu cầu bồi thường đã được thụ lý trước ngày 01/3/2027 mà chưa hoặc đang giải quyết thì tiếp tục áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước để giải quyết; kể từ ngày 01/3/2027, đối với những công việc, thủ tục chưa có kết quả giải quyết thì cơ quan giải quyết bồi thường áp dụng quy định có lợi hơn cho người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước để giải quyết, trừ trường hợp người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả đề nghị không áp dụng quy định đó.

Với quy định trên giúp người yêu cầu bồi thường, người thi hành công vụ có trách nhiệm hoàn trả được thụ hưởng ngay những chính sách tiến bộ của Luật mới mà không chịu thiệt thòi chỉ vì vụ việc phát sinh trước thời điểm chuyển giao; đồng thời, việc xác định “từng công việc, thủ tục chưa có kết quả” thay cho “toàn bộ vụ việc” bảo đảm xử lý mềm dẻo các vụ việc kéo dài, dở dang và vẫn tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên.

Với những điểm mới nêu trên, có thể khẳng định, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước là bước hoàn thiện thể chế về trách nhiệm bồi thường của nhà nước rất quan trọng. Luật được ban hành vừa phù hợp với việc thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, vừa khắc phục được những khó khăn, vướng mắc đã được đánh giá, nhận diện rõ trong thực tiễn. Trên hết, tất cả các nội dung sửa đổi, bổ sung đều hướng tới một mục đích cao cả và duy nhất là bảo đảm tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời nâng cao chất lượng thi hành công vụ.

Xem nhiều nhất