CloudHà Tĩnh 29° - 37°C
CloudHà Tĩnh 29° - 37°C
Lịch tiếp công dân định kỳ tuần 5 tháng 07 của Lãnh đạo UBND phường Trần PhúLịch tiếp công dân định kỳ tuần 3 tháng 07 của Lãnh đạo UBND phường Trần Phú Lịch tiếp công dân định kỳ tuần 4 tháng 07 của Lãnh đạo UBND phường Trần Phú Kết quả tiếp công dân định kỳ tuần 3 tháng 7 năm 2025Lịch tiếp công dân định kỳ tuần 2 tháng 07 của lãnh đạo UBND phường Trần PhúThông báo về việc niêm yết thông tin trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại mái ấm Thiên Ân (bé trai)PHƯỜNG TRẦN PHÚ TÍCH CỰC HƯỞNG ỨNG CUỘC THI TRỰC TUYẾN TÌM HIỂU BẦU CỬ QUỐC HỘI VÀ HĐND CÁC CẤPThông báo về việc niêm yết thông tin trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại mái ấm Thiên Ân (bé gái) Thông báo niêm yết công khai việc nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài Niêm yết việc tiếp nhận yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sảnVề việc khảo sát phục vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về hòa giải ở cơ sởThông báo về việc niêm yết thông tin trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại làng trẻ mồ côi Hà TĩnhLịch tiếp công dân định kỳ tuần 5 tháng 07 của Lãnh đạo UBND phường Trần PhúLịch tiếp công dân định kỳ tuần 3 tháng 07 của Lãnh đạo UBND phường Trần Phú Lịch tiếp công dân định kỳ tuần 4 tháng 07 của Lãnh đạo UBND phường Trần Phú Kết quả tiếp công dân định kỳ tuần 3 tháng 7 năm 2025Lịch tiếp công dân định kỳ tuần 2 tháng 07 của lãnh đạo UBND phường Trần PhúThông báo về việc niêm yết thông tin trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại mái ấm Thiên Ân (bé trai)PHƯỜNG TRẦN PHÚ TÍCH CỰC HƯỞNG ỨNG CUỘC THI TRỰC TUYẾN TÌM HIỂU BẦU CỬ QUỐC HỘI VÀ HĐND CÁC CẤPThông báo về việc niêm yết thông tin trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại mái ấm Thiên Ân (bé gái) Thông báo niêm yết công khai việc nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài Niêm yết việc tiếp nhận yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sảnVề việc khảo sát phục vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về hòa giải ở cơ sởThông báo về việc niêm yết thông tin trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại làng trẻ mồ côi Hà TĩnhLịch tiếp công dân định kỳ tuần 5 tháng 07 của Lãnh đạo UBND phường Trần PhúLịch tiếp công dân định kỳ tuần 3 tháng 07 của Lãnh đạo UBND phường Trần Phú Lịch tiếp công dân định kỳ tuần 4 tháng 07 của Lãnh đạo UBND phường Trần Phú Kết quả tiếp công dân định kỳ tuần 3 tháng 7 năm 2025Lịch tiếp công dân định kỳ tuần 2 tháng 07 của lãnh đạo UBND phường Trần PhúThông báo về việc niêm yết thông tin trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại mái ấm Thiên Ân (bé trai)PHƯỜNG TRẦN PHÚ TÍCH CỰC HƯỞNG ỨNG CUỘC THI TRỰC TUYẾN TÌM HIỂU BẦU CỬ QUỐC HỘI VÀ HĐND CÁC CẤPThông báo về việc niêm yết thông tin trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại mái ấm Thiên Ân (bé gái) Thông báo niêm yết công khai việc nhận cha, mẹ, con có yếu tố nước ngoài Niêm yết việc tiếp nhận yêu cầu công chứng văn bản phân chia di sảnVề việc khảo sát phục vụ xây dựng, hoàn thiện thể chế, chính sách về hòa giải ở cơ sởThông báo về việc niêm yết thông tin trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại làng trẻ mồ côi Hà Tĩnh

Đề án sắp xếp tổ dân phố thuộc phường Trần Phú

Bích Thủy12/06/2026
Bích Thủy12/06/2026
Phường Trần Phú vừa ban hành dự thảo đề án sắp xếp tổ dân phố từ 42 tổ dân phố xuống còn 15 tổ dân phố nhằm lấy ý kiến rộng rãi trong Nhân dân theo đúng quy định. Toàn văn nội dung dự thảo đề án như sau:

ỦY BAN NHÂN DÂN

PHƯỜNG TRẦN PHÚ

 

Số:        /ĐA-UBND

 

(DỰ THẢO)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Phường Trần Phú, ngày        tháng 06 năm 2026

ĐỀ ÁN

SẮP XẾP TỔ DÂN PHỐ THUỘC PHƯỜNG TRẦN PHÚ

 

 

PHẦN THỨ I

CĂN CỨ CHÍNH TRỊ, PHÁP LÝ

 

- Kết luận số 210-KL/TW ngày 12/11/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của HTCT trong thời gian tới;

- Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố;

- Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025; 

- Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở số 10/2022/QH15 ngày 11/10/2022 của Quốc hội; Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên và Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở số 97/2025/QH15;

- Nghị định số 59/2023/NĐ-CP ngày 14/8/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thực hiện dân chủ ở cơ sở;

- Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng, chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố;

- Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26 /5/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố;  

- Văn bản số 4601/UBND-NC2 ngày 22/5/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc triển khai thực hiện Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 20/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ.

- Văn bản số 498-CV/TU ngày 26/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc triển khai thực hiện Kết luận số 34-KL/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 21/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ;

- Công văn số 4930/UBND-NC2 Ngày 29/5/2026 của UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện các nội dung liên quan đến việc sắp xếp thôn, TDP;

- Thông báo kết luận số 120-TB/TU ngày 20/5/2026 của Tỉnh ủy kết luận của Thường trực tỉnh ủy tại cuộc họp giao ban ngày 19/5/2026;

- Công văn số 3242/SNV-XDCQ&TCBT ngày 29/5/2026 của Sở Nội vụ về việc hướng dẫn triển khai các nội dung liên quan đến việc sắp xếp thôn, tổ dân phố;

- Công văn số 270-CV/ĐU ngày 28/5/2026 của Đảng ủy phường Trần Phú về việc triển khai thực hiện chủ trương sắp xếp tổ dân phố.

PHẦN THỨ II

LÝ DO VÀ SỰ CẦN THIẾT SẮP XẾP TỔ DÂN PHỐ

 

1. Lý do sắp xếp tổ dân phố

Phường Trần Phú được thành lập trên cơ sở sáp nhập phường Thạch Trung, Thạch Hạ, Đồng Môn và xã Hộ Độ, có diện tích 29,50 km2, quy mô dân số 39.254 người với 9.653 hộ dân, được tổ chức thành 42 tổ dân phố; là phường có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa, cách mạng; có hệ thống chính trị cơ sở ổn định, đoàn kết.

Trong thời gian qua, Ủy ban nhân dân phường đã tổ chức quản lý, điều hành các tổ dân phố hoạt động theo quy định. Hoạt động của tổ dân phố thông qua sự lãnh đạo, quản lý điều hành của cấp ủy chi bộ, các chi hội đoàn thể đã phát huy hiệu quả công tác vận động nhân dân tích cực thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốt Quy chế dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, tiếp thu, phản ánh ý kiến của nhân dân để phản ánh cho Đảng và chính quyền các cấp đảm bảo sự ổn định từ cơ sở.

Tuy nhiên, trong quá trình lãnh đạo, điều hành còn gặp nhiều khó khăn:

- Toàn phường hiện có 42/42 tổ dân phố có nhà văn hóa và khu thể thao phục vụ sinh hoạt cộng đồng, tuy nhiên hầu hết nhà văn hóa có diện tích nhỏ, cơ sở vật chất, thiết chế văn hóa không đồng bộ làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng sinh hoạt, triển khai các phong trào ở tổ dân phố.

- Thực trạng quy mô tổ dân phố nhỏ, đội ngũ cán bộ đảm nhiệm công việc ở tổ dân phố thiếu ổn định, một số tổ dân phố năng lực tổ chức, vận động quần chúng hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, nhất là phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Một số tổ dân phố số lượng đảng viên ít, chưa đủ điều kiện đ thành lập chi bộ nên phải sinh hoạt ghép; một số tổ các chi đoàn, chi hội hoạt động yếu, số lượng đoàn viên, hội viên ít, từ đó hệ thống chính trị từ chi bộ, đến các đoàn thể hiệu quả hoạt động chưa cao. Bên cạnh đó đầu mối, kinh phí để triển khai nhiệm vụ đến các tổ dân phố nhiều nên ảnh hưng đến quá trình điều hành của UBND phường.

- Việc tìm nguồn nhân sự những người hoạt động không chuyên trách, các tổ chức tự quản ở tổ dân phố chuẩn bị cho kỳ đại hội chi bộ và các chi hội gặp nhiều khó khăn, vì phần lớn những người có điều kiện tham gia đều lớn tuổi, còn những người trẻ hơn chủ yếu lo làm kinh tế, ít quan tâm đến công tác tổ dân phố.

- Việc tổ chức các hoạt động phong trào thường gặp khó khăn do không có người tham gia. 

2. Sự cần thiết sắp xếp tổ dân phố

Việc sắp xếp các tổ dân phố trên địa bàn phường Trần Phú là yêu cầu khách quan, cần thiết và cấp bách nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng tại Kết luận số 210-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Kết luận số 34-KL/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 21/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Hà Tĩnh về sắp xếp thôn, tổ dân phố gắn với bố trí, sử dụng đội ngũ người hoạt động không chuyên trách ở cơ sở.

Sắp xếp, sáp nhập tổ dân phố giúp tinh gọn bộ máy, giảm chi phí, giảm nhân sự, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tổ dân phố, có điều kiện tổ chức sinh hoạt cộng đồng, hội họp thuận lợi hơn, dễ phát động các phong trào, dễ tập trung huy động nguồn lực để đầu tư hạ tầng đường dân sinh, nhà văn hóa tổ dân phố; khắc phục những khó khăn về nguồn nhân sự tham gia người hoạt động không chuyên trách và các tổ chức tổ tự quản ở tổ dân phố; có nguồn phát triển Đảng viên, bảo đảm sự chỉ đạo toàn diện của chi bộ, sự hoạt động hiệu quả của tổ dân phố, sự phối hợp công tác vận động của Ban công tác Mặt trận, các đoàn thể tổ dân phố.

Trong bối cảnh phường Trần Phú đã được hình thành với không gian phát triển mới, quy mô dân số lớn hơn, yêu cầu quản lý nhà nước, lãnh đạo của cấp ủy, điều hành của chính quyền và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng cao, việc sắp xếp tổ dân phố là yêu cầu cần thiết và khách quan.

Xuất phát từ những lý do và sự cần thiết nêu trên, Ủy ban nhân dân phường xây dựng đề án sắp xếp, sáp nhập các tổ dân phố trình cấp có thẩm quyết định.

 

PHẦN THỨ III

NỘI DUNG SẮP XẾP TỔ DÂN PHỐ

 

I. THỰC TRẠNG CHUNG

1. Thực trạng phường Trần Phú

- Diện tích tự nhiên của phường: 29,50 km2

- Số lượng tổ dân phố: 42

- Đánh giá chung về thực trạng tổ dân phố trên cơ sở đối chiếu với các tiêu chuẩn của tổ dân phố được quy định tại Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày    26/5/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố:

+ Số lượng tổ dân phố đạt tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình: 0/42

+ Số lượng tổ dân phố không đạt tiêu chuẩn về quy mô số hộ gia đình: 42/42.

+ Số lượng, chất lượng, hiệu quả hoạt động của các chi hội đoàn thể ở tổ dân phố:

Tại các tổ dân phố đều thành lập và duy trì hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội gồm: Chi hội Cựu chiến binh, Chi hội Nông dân, Chi hội Phụ nữ, Chi đoàn Thanh niên và Chi hội Người cao tuổi. Hầu hết các chi hội đều được kiện toàn tổ chức, có quy chế hoạt động, xây dựng chương trình công tác hằng năm và tổ chức triển khai các phong trào thi đua do cấp trên phát động.

Chất lượng hoạt động của các chi hội đoàn thể cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Các tổ chức đoàn thể đã phát huy tốt vai trò tập hợp, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đô thị văn minh, bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh trật tự, xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư và thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Tuy nhiên, do quy mô nhiều tổ dân phố nhỏ, số lượng hội viên ở một số chi hội, chi đoàn chưa nhiều, đội ngũ cán bộ chi hội chủ yếu kiêm nhiệm, tuổi đời cao nên việc tổ chức các hoạt động có thời điểm còn hạn chế; một số chi hội chưa thực sự phát huy hiệu quả vai trò tập hợp quần chúng, việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động còn chậm.

+ Số lượng, chất lượng, hiệu quả hoạt động của người hoạt động không chuyên trách ở tổ dân phố:

Toàn phường có 42 tổ dân phố với đội ngũ người hoạt động không chuyên trách gồm các chức danh: Bí thư Chi bộ, Tổ trưởng tổ dân phố và Trưởng ban Công tác Mặt trận. Đội ngũ người hoạt động không chuyên trách cơ bản có phẩm chất chính trị tốt, gương mẫu chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, có tinh thần trách nhiệm và uy tín trong Nhân dân. Trong thời gian qua, đội ngũ người hoạt động không chuyên trách đã thực hiện tốt vai trò cầu nối giữa chính quyền với Nhân dân; tích cực tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện các nhiệm vụ chính trị, các phong trào thi đua yêu nước, tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo đảm quốc phòng - an ninh và giữ gìn trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Tuy nhiên, do số lượng tổ dân phố nhiều, quy mô nhỏ nên đội ngũ cán bộ tổ dân phố phân tán, trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin chưa đồng đều; phần lớn cán bộ có độ tuổi cao, khó khăn trong việc tiếp cận các yêu cầu mới về chuyển đổi số và cải cách hành chính. Việc tìm kiếm, tạo nguồn cán bộ trẻ tham gia công tác tổ dân phố còn nhiều hạn chế.

- Các điều kiện khác (cơ sở hạ tầng, thiết chế văn hóa, kinh tế - xã hội…):

Phường Trần Phú là địa bàn trung tâm có tốc độ đô thị hóa nhanh, hạ tầng giao thông từng bước được đầu tư đồng bộ, kết nối thuận lợi với các khu vực lân cận. Trên địa bàn đang triển khai nhiều dự án phát triển đô thị, khu dân cư và nhà ở xã hội, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Kinh tế của phường phát triển theo hướng thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp kết hợp sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản tại một số khu vực. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng được nâng lên; hệ thống giáo dục, y tế, an sinh xã hội cơ bản đáp ứng nhu cầu của người dân. Công tác quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Bên cạnh những thuận lợi, địa bàn phường có dân số đông, phân bố không đồng đều, số lượng tín đồ tôn giáo lớn, tốc độ đô thị hóa nhanh dẫn đến yêu cầu ngày càng cao đối với công tác quản lý nhà nước, quản lý dân cư, bảo đảm an ninh trật tự và đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Đây cũng là cơ sở thực tiễn quan trọng để thực hiện sắp xếp, sáp nhập các tổ dân phố nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và phát huy tối đa nguồn lực phát triển địa phương.

2. Thực trạng tổ dân phố

a) Về số lượng tổ dân phố

Toàn phường có 42 tổ dân phố, trong đó 42/42 tổ dân phố không đảm bảo quy mô hộ gia đình theo quy định.

b) Về tổ chức đảng, chính quyền và các chi hội, đoàn thể ở tổ dân phố

+ Có 37 tổ dân phố có tổ chức đảng, với 1.508 đảng viên (có 05 chi bộ ghép)

+ Có 42 tổ dân phố có tổ trưởng tổ dân phố;

+ Có 42 tổ dân phố có Trưởng ban Công tác Mặt trận;

+ Có 42 tổ dân phố có các chi hội, gồm: Chi hội Cựu chiến binh, Chi hội Nông dân, Chi hội Phụ nữ, Chi đoàn Thanh niên và Chi hội Người cao tuổi

c) Về nhà sinh hoạt cộng đồng

Hiện nay phường có 42/42 tổ dân phố đều có nhà sinh hoạt cộng đồng phục vụ hội họp, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động cộng đồng. Tuy nhiên, một số nhà văn hóa được xây dựng từ lâu, diện tích nhỏ, cơ sở vật chất chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu tổ chức các hoạt động quy mô lớn.

đ) Về người hoạt động không chuyên trách và người trực tiếp tham gia hoạt động ở tổ dân phố

- Hiện nay, toàn phường có 42 tổ dân phố với tổng số người hoạt động không chuyên trách ở tổ dân phố là 83 người, cụ thể như sau:

+ Bí thư chi bộ kiêm Tổ trưởng tổ dân phố: 0 người.

+ Bí thư chi bộ kiêm Trưởng ban Công tác Mặt trận tổ dân phố: 35 người;

+ Bí thư chi bộ - Tổ trưởng TDP, kiêm Trưởng ban Công tác Mặt trận TDP: 01 người;

+ Bí thư chi bộ TDP: 01 người

+ Trưởng Ban Công tác Mặt trận TDP: 05 người

+ Tổ trưởng tổ dân phố kiêm nhiệm Trưởng ban Công tác Mặt trận TDP: 01 người.

+ Tổ trưởng tổ dân phố: 40 người

- Hiện còn khuyết chức danh:

+ Bí thư chi bộ: 05 người (Thạch Trung 03; Thạch Hạ 02)

+ Tổ trưởng tổ dân phố: 01 người.

- Toàn phường có 242 người trực tiếp tham gia hoạt động ở tổ dân phố (không bao gồm lực lượng DQTV, ANCS); trong đó, có 22 người kiêm các nhiệm vụ về công tác Đảng, chi hội, chi đoàn và nhiệm vụ khác ở tổ dân phố

Số liệu cụ thể như sau:

TT

Tên tổ dân phố

Số hộ gia đình

Số nhân khẩu

Số người hoạt động KCT

Số người tham gia trực tiếp

Nhà sinh hoạt CĐ

 

Đạt, không đạt

(theo NĐ số 185/2026/NĐ-CP của CP)

Đạt

Không đạt

1

Vĩnh Phong

347

1.393

2

6

1

 

x

2

Yên Thọ

351

1.463

2

6

1

 

x

3

Đồng Xuân

322

1.228

1

6

1

 

x

4

Xuân Tây

241

1.009

2

5

1

 

x

5

Liên Xuân

296

1.163

2

6

1

 

x

6

Trung Châu

118

482

2

6

1

 

x

7

Tân Quý

198

789

2

6

1

 

x

8

Nam Hà

96

388

2

6

1

 

x

9

Vĩnh Phú

280

1.085

2

6

1

 

x

10

Hạ Hoàng

260

1.218

2

6

1

 

x

11

Trung Đình

124

589

3

5

1

 

x

12

Thượng Đình

207

1.017

2

6

1

 

x

13

Đông Đoài

235

1.111

2

6

1

 

x

14

Minh Yên

146

702

2

5

1

 

x

15

Tân Lộc

148

580

2

6

1

 

x

16

Minh Tiến

196

793

2

6

1

 

x

17

Tân Học

197

751

2

6

1

 

x

18

Liên Nhật

99

451

2

5

1

 

x

19

Liên Hà

282

1.251

2

6

1

 

x

20

Liên Thanh

145

507

2

6

1

 

x

21

Tiền Tiến

365

1.519

2

6

1

 

x

22

Trung Tiến

134

509

2

6

1

 

x

23

Quyết Tiến

174

677

2

6

1

 

x

24

Thanh Tiến

290

1.284

2

6

1

 

x

25

Thắng Lợi

213

819

2

6

1

 

x

26

Hòa Bình

231

919

2

6

1

 

x

27

Đồng Thanh

223

878

2

6

1

 

x

28

Liên Công

225

884

2

6

1

 

x

29

Tiến Giang

288

1.054

2

6

1

 

x

30

Đức Phú

236

924

2

6

1

 

x

31

Trung Phú

223

922

2

5

1

 

x

32

Nam Phú

229

908

2

5

1

 

x

33

Bắc Phú

282

1.018

2

5

1

 

x

34

Bắc Quang

168

636

2

5

1

 

x

35

Liên Phú

221

884

1

5

1

 

x

36

Tân Phú

163

682

2

6

1

 

x

37

Thanh Phú

357

1.424

2

6

1

 

x

38

Tân Trung

190

637

2

6

1

 

x

39

Đoài Thịnh

389

1.575

2

6

1

 

x

40

Nam Quang

205

819

2

5

1

 

x

41

Hồng Hà

360

1.524

2

6

1

 

x

42

Đông Tiến

199

788

2

6

1

 

x

Tổng cộng

9.653

39.254

83

242

42

 

 

- Số lượng tổ dân phố không đảm bảo tiêu chuẩn: 42/42. Trong đó, đề nghị sắp xếp 42/42 tổ dân phố.

c) Đánh giá về hoạt động của tổ dân phố

Qua 01 năm thực hiện chính quyền địa phương 02 cấp, hoạt động của cấp ủy, tổ dân phố và các chi đoàn, chi hội có nhiều chuyển biến tích cực, nắm vững các nhiệm vụ chính trị của Đảng, chính quyền địa phương đề ra. Các tổ dân phố bám sát chương trình công tác của Mặt trận và các đoàn thể phường, chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng ủy, HĐND phường với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, lồng ghép tuyên truyền học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước gắn với đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo gắn với thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Phát huy vai trò Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong nhân dân phát triển KT-XH, AN-QP, tham gia xây dựng đảng, chính quyền, xây dựng hệ thống chính trị... Đẩy mạnh phong trào thi đua sản xuất giỏi, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần trong các tầng lớp nhân dân, phong trào đền ơn đáp nghĩa, vì người nghèo, công tác nhân đạo từ thiện được khơi dậy và phát huy.

Mối quan hệ mật thiết giữa Đảng ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân được tăng cường, củng cố, lòng tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của chính quyền được nâng lên. Nội dung phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể gắn với thực tiễn đời sống của các tầng lớp Nhân dân; trách nhiệm của đoàn viên, hội viên gắn với vai trò, vị trí của các tổ chức chính trị - xã hội ngày được nâng lên, tập hợp nhiều đoàn viên, hội viên vào tổ chức.

Công tác phòng chống các tệ nạn xã hội cũng được nhân dân tích cực tham gia, đã thành lập các tổ bảo vệ an ninh và các đội dân phòng, thực hiện tốt mô hình “Tổ tự quản”, mô hình “Zalo kết nối cộng đồng ở các tổ dân phố nhằm phòng chống các tệ nạn xã hội xảy ra.

Các tổ dân phố đã chủ động xây dựng và thực hiện quy chế, hương ước, quy ước của tổ dân phố, tích cực tham gia cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và các phong trào, các cuộc vận động do các tổ chức chính trị - xã hội phát động.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động của một số tổ dân phố vẫn còn những khó khăn, hạn chế. Quy mô các tổ dân phố nhỏ, số hộ dân chưa đạt tiêu chuẩn theo quy định, dẫn đến nguồn lực phân tán, hiệu quả tổ chức các hoạt động cộng đồng chưa cao. Một số cán bộ tổ dân phố tuổi đời cao, khả năng ứng dụng công nghệ thông tin và tiếp cận yêu cầu chuyển đổi số còn hạn chế; nguồn cán bộ trẻ kế cận tham gia công tác ở tổ dân phố còn thiếu. Việc duy trì hoạt động của các tổ chức đoàn thể ở một số tổ dân phố còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở. Đây là những vấn đề cần được khắc phục thông qua việc sắp xếp tổ dân phố nhằm tinh gọn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động và đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong giai đoạn mới.

3. Phương án sắp xếp các tổ dân phố

Stt

Tên gọi mới

của tổ dân phố

Được sắp xếp từ các tổ dân phố cũ số hộ/khẩu

Quy mô số hộ gia đình của tổ dân phố sau khi hình thành mới

Số hộ

Số nhân khẩu

 

1

TRƯỜNG THỌ

TDP Vĩnh Phong: 347 hộ, 1.393 khẩu

816

3.338

 

TDP Yên Thọ: 351 hộ, 1.463 khẩu

 

TDP Trung Châu: 118 hộ, 482 khẩu

 

2

ĐỒNG XUÂN

TDP Đồng Xuân: 322 hộ, 1.228 khẩu

859

3.400

 

TDP Xuân Tây: 241 hộ, 1.009 khẩu

 

TDP Liên Xuân: 296 hộ, 1.163 khẩu

 

3

HỘ ĐỘ

TDP Tân Quý: 198 hộ, 789 khẩu

574

2.262

 

TDP Vĩnh Phú: 280 hộ, 1.085 khẩu

 

TDP Nam Hà: 96 hộ, 388 khẩu

 

4

TÂN AN

TDP Trung Đình: 124 hộ, 589 khẩu

712

3.419

 

TDP Thượng Đình: 207 hộ, 1.017 khẩu

 

TDP Đông Đoài: 235 hộ, 1.111 khẩu

 

TDP Minh Yên: 146 hộ, 702 khẩu

 

5

THẠCH HẠ

TDP Liên Hà: 282 hộ, 1.251 khẩu

542

2.469

 

TDP Hạ Hoàng: 260 hộ, 1.218 khẩu

 

6

BÌNH MINH

TDP Liên Thanh: 145 hộ, 507 khẩu

823

3.228

 

TDP Liên Nhật: 99 hộ, 451 khẩu

 

TDP Tân Lộc: 148 hộ, 580 khẩu

 

TDP Minh Tiến: 196 hộ, 793 khẩu

 

TDP Tân Học: 197 hộ, 751 khẩu

 

Một phần của TDP Hồng Hà: 33 hộ, 126 khẩu

 

Một phần của TDP Đông Tiến: 5 hộ, 20 khẩu

 

7

BẮC HỒNG

TDP Hồng Hà: 327 hộ, 1.398 khẩu

700

2.853

 

TDP Nam Quang: 205 hộ, 819 khẩu

 

TDP Bắc Quang: 168 hộ, 636 khẩu

 

8

THẠCH TRUNG

TDP Đông Tiến: 194 hộ, 768 khẩu

583

2.343

 

TDP Đoài Thịnh: 389 hộ, 1.575 khẩu

 

9

ĐỨC TRUNG

TDP Đức Phú: 236 hộ, 924 khẩu

459

1.846

 

TDP Trung Phú: 223 hộ, 922 khẩu

 

10

BẮC PHÚ

TDP Nam Phú: 229 hộ, 908 khẩu

732

2.810

 

TDP Bắc Phú: 282 hộ, 1.018 khẩu

 

TDP Liên Phú: 221 hộ, 884 khẩu

 

11

THANH PHÚ

TDP Tân Trung: 190 hộ, 637 khẩu

710

2.743

 

TDP Thanh Phú: 357 hộ, 1.424 khẩu

 

TDP Tân Phú: 163 hộ, 682 khẩu

 

12

THẠCH MÔN

TDP Tiền Tiến: 365 hộ, 1.519 khẩu

499

2.028

 

TDP Trung Tiến: 134 hộ, 509 khẩu

 

13

THANH TIẾN

TDP Quyết Tiến: 174 hộ, 677 khẩu

464

1.961

 

TDP Thanh Tiến: 290 hộ, 1.284 khẩu

 

14

THẮNG LỢI

TDP Thắng Lợi: 213 hộ, 819 khẩu

504

1.978

 

TDP Hòa Bình: 231 hộ, 919 khẩu

 

Một phần của TDP Đồng Thanh: 60 hộ, 240 khẩu

 

15

THẠCH ĐỒNG

TDP Đồng Thanh: 163 hộ, 638 khẩu

676

2.576

 

TDP Liên Công: 225 hộ,  884 khẩu

 

TDP Tiến Giang: 288 hộ, 1.054 khẩu

 

Tổng

15

 

9.653

39.254

 

4. Phương án bố trí và giải quyết chế độ chính sách đối với người hoạt động KCT dôi dư do sắp xếp tổ dân phố.

- Tổng số người hoạt động KCT trước khi sắp xếp: 83 người

- UBND phường đã thực hiện rà soát nguyện vọng của người hoạt động KCT tổ dân phố sau sắp xếp: có 74 người có nguyện vọng nghỉ giải quyết chế độ và 9 người có nguyện vọng tiếp tục được tiếp tục bố trí công tác.

Đối với những người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn, năng lực, uy tín và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội sẽ xem xét, lựa chọn, bố trí tiếp tục đảm nhiệm các chức danh người hoạt động không chuyên trách tại tổ dân phố mới sau sắp xếp. Việc lựa chọn bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, khách quan và phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương.

- Số người hoạt động KCT phải đề xuất giải quyết chế độ chính sách là 74 người (nghỉ theo nguyện vọng).

UBND phường phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền thực hiện rà soát, lập danh sách, hoàn thiện hồ sơ và đề xuất giải quyết chế độ, chính sách theo quy định hiện hành; đồng thời động viên, khuyến khích tiếp tục tham gia các tổ chức tự quản, các chi hội đoàn thể và các hoạt động cộng đồng tại khu dân cư phù hợp với điều kiện, năng lực của từng cá nhân.

II. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SAU KHI SẮP XẾP, SÁP NHẬP TỔ DÂN PHỐ

1. Hiệu quả về công tác quản lý địa bàn, tinh gọn bộ máy, đầu mối, tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và hoạt động Ban Công tác Mặt trận

Việc sắp xếp 42 tổ dân phố thành 15 tổ dân phố đã góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương tinh gọn bộ máy, giảm đầu mối quản lý ở cơ sở, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị tại khu dân cư. Sau sắp xếp, quy mô dân cư của các tổ dân phố được mở rộng, bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh trên địa bàn.

Việc giảm số lượng tổ dân phố giúp tập trung nguồn nhân lực có năng lực, trình độ, uy tín tham gia công tác ở khu dân cư; khắc phục tình trạng phân tán lực lượng, thiếu nguồn cán bộ tại các tổ dân phố. Chất lượng sinh hoạt chi bộ, hoạt động của Ban Công tác Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội được nâng lên do số lượng đảng viên, đoàn viên, hội viên tăng, tạo điều kiện đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy tốt hơn vai trò lãnh đạo, vận động quần chúng.

Kết quả giảm đầu mối cụ thể như sau:

- Số lượng tổ dân phố giảm từ 42 tổ xuống còn 15 tổ, giảm 27 tổ dân phố, tương ứng tỷ lệ giảm 64,29%.

- Số lượng người hoạt động không chuyên trách giảm từ 83 người xuống còn 45 người (15 Bí thư chi bộ, 15 Tổ trưởng TDP, 15 Trưởng ban CTMT), giảm 38 người.

- Số lượng chi bộ tổ dân phố giảm từ 37 chi bộ xuống còn 15 chi bộ, giảm 22 chi bộ.

- Số lượng Ban Công tác Mặt trận giảm từ 42 Ban xuống còn 15 Ban, giảm 27 Ban.

- Đối với các tổ chức chính trị - xã hội ở tổ dân phố (Cựu chiến binh, Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Nông dân, Người cao tuổi...): số lượng chi hội, chi đoàn được sắp xếp tương ứng từ 42 chi hội, chi đoàn xuống còn 15 chi hội, chi đoàn giảm 27 chi hội, chi đoàn đối với từng loại hình đoàn thể.

Số lượng người trực tiếp tham gia hoạt động ở tổ dân phố (Chi hội trưởng các đoàn thể, lực lượng tự quản...) giảm đáng kể, góp phần tinh giản đầu mối tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động.

2. Hiệu quả về giảm chi ngân sách:

Sau khi sắp xếp, số lượng tổ dân phố giảm 27 đơn vị, kéo theo giảm đáng kể kinh phí chi cho đội ngũ người hoạt động không chuyên trách và các tổ chức chính trị - xã hội ở khu dân cư.

Tổng số tiền giảm khoảng: 341.640.000đ/tháng, trong đó: 228.150.000đ/tháng giảm do giảm số lượng người hoạt động không chuyên trách; 113.490.000đ/tháng giảm do tổ chức lại các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.

3. Hiệu quả về phát triển kinh tế - xã hội, hạ tầng kỹ thuật

Việc sắp xếp các tổ dân phố không chỉ góp phần tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đầu tư đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn phường.

Sau khi sắp xếp, quy mô dân cư của các tổ dân phố được mở rộng, bảo đảm tiêu chuẩn theo quy định của Trung ương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và triển khai các quy hoạch phát triển đô thị, quy hoạch sử dụng đất, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Việc giảm số lượng đầu mối quản lý giúp nâng cao tính đồng bộ trong công tác quản lý địa bàn, hạn chế tình trạng chia cắt, manh mún trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Đối với lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật, việc hình thành các tổ dân phố có quy mô lớn hơn sẽ tạo điều kiện tập trung nguồn lực đầu tư các công trình giao thông, hệ thống điện chiếu sáng, cấp thoát nước, viễn thông, công nghệ thông tin, chỉnh trang đô thị và các công trình công cộng phục vụ dân sinh. Nguồn kinh phí hoạt động tiết kiệm được từ việc giảm đầu mối tổ chức có thể được ưu tiên đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, nhà sinh hoạt cộng đồng, các thiết chế văn hóa, thể thao và các công trình phúc lợi phục vụ Nhân dân.

Công tác quản lý đất đai, trật tự xây dựng, bảo vệ môi trường và quản lý dân cư được thực hiện hiệu quả hơn nhờ địa bàn quản lý được tổ chức lại theo hướng tập trung, thống nhất. Các tổ dân phố mới có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện các quy định về xây dựng đô thị văn minh, giữ gìn vệ sinh môi trường, phân loại và xử lý rác thải, xây dựng cảnh quan sáng - xanh - sạch - đẹp.

Việc sắp xếp tổ dân phố còn tạo điều kiện phát huy hiệu quả các nguồn lực xã hội hóa trong Nhân dân. Với quy mô dân cư lớn hơn, các tổ dân phố có khả năng huy động nguồn lực cộng đồng để đầu tư xây dựng các công trình phúc lợi, chỉnh trang khu dân cư, hỗ trợ phát triển sản xuất, kinh doanh, khuyến học, khuyến tài và thực hiện các chương trình an sinh xã hội. Qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương theo hướng bền vững.

Bên cạnh đó, việc sắp xếp tổ dân phố tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số, xã hội số và công dân số. Công tác quản lý dân cư, giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến và triển khai các nền tảng số được thực hiện đồng bộ, hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân và doanh nghiệp trên địa bàn.

4. Các hiệu quả khác 

Ngoài những hiệu quả về tổ chức bộ máy và phát triển kinh tế - xã hội, việc sắp xếp tổ dân phố còn mang lại nhiều hiệu quả thiết thực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Thứ nhất, sau sắp xếp, số lượng đảng viên trong mỗi chi bộ tăng lên, tạo điều kiện thuận lợi để đổi mới nội dung, phương thức sinh hoạt chi bộ, nâng cao chất lượng ban hành nghị quyết và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị tại khu dân cư. Vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chi bộ đối với hệ thống chính trị ở cơ sở được tăng cường, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Việc giảm đầu mối tổ chức giúp tập trung nguồn lực, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đoàn thể, tăng cường khả năng tập hợp, vận động đoàn viên, hội viên và Nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do địa phương phát động.

Thứ ba, góp phần củng cố và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Quá trình sắp xếp tổ dân phố tạo điều kiện để mở rộng phạm vi liên kết cộng đồng dân cư, tăng cường giao lưu, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau trong phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa và thực hiện các phong trào thi đua tại địa phương.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả công tác quốc phòng, an ninh và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Với địa bàn quản lý được tổ chức lại hợp lý, lực lượng nòng cốt ở cơ sở được kiện toàn, công tác nắm tình hình dân cư, quản lý nhân hộ khẩu, phòng chống tội phạm, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ được triển khai thuận lợi, hiệu quả hơn.

Thứ năm, thông qua việc sắp xếp, địa phương có điều kiện lựa chọn những người có phẩm chất chính trị, năng lực, trình độ, uy tín và tinh thần trách nhiệm để bố trí đảm nhiệm các chức danh ở tổ dân phố mới, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở khu dân cư.

Thứ sáu, việc giảm số lượng đầu mối giúp công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền phường được tập trung, thống nhất, kịp thời; giảm thời gian, chi phí trong công tác triển khai các chủ trương, chính sách, đồng thời nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân.

Thứ bảy, tạo tiền đề quan trọng để xây dựng mô hình quản trị cộng đồng hiện đại, thích ứng với yêu cầu phát triển đô thị, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng chính quyền địa phương hai cấp tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả theo chủ trương của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay.

 

PHẦN THỨ IV

PHƯƠNG HƯỚNG XÂY DỰNG VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA TỔ DÂN PHỐ MỚI

1. Về số lượng

Sau khi sáp nhập toàn phường Trần Phú có 15 tổ dân phố, gồm: Trường Thọ, Đồng Xuân, Hộ Độ, Tân An, Thạch Hạ, Bình Minh, Bắc Hồng, Thạch Trung, Đức Trung, Bắc Phú, Thanh Phú, Thạch Môn, Thanh Tiến, Thắng Lợi, Thạch Đồng.

Việc hình thành 15 tổ dân phố mới bảo đảm phù hợp với tiêu chuẩn về quy mô hộ gia đình theo quy định của Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ; đồng thời kế thừa các yếu tố lịch sử, văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động cộng đồng và xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.

2. Về tổ chức

Theo Nghị định số 185/2026/NĐ-CP ngày 26/5/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động của thôn, tổ dân phố và chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố, số lượng những người hoạt động không chuyên trách ở tổ dân phố được bố trí 03 người gồm các chức danh: Bí thư chi bộ, Tổ trưởng và Trưởng ban Công tác Mặt trận, có tổng số 45 người.

3. Về tổ chức thực hiện:

Sau khi có chủ trương của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và sự thống nhất của thường trực Đảng ủy, HĐND; UBND phường Trần Phú kính trình Đề án sắp xếp, sáp nhập tổ dân phố để HĐND phường xem xét thông qua và ban hành Nghị quyết quyết định.

Sau khi có Nghị quyết của HĐND phường, UBND phường sẽ xây dựng Kế hoạch triển khai việc bầu cử tổ trưởng tổ dân phố theo quy định của pháp luật; phối hợp các đơn vị liên quan kiện toàn các chức danh người hoạt động không chuyên trách theo quy định.

Đồng thời tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong quá trình triển khai thực hiện; kịp thời nắm bắt, giải quyết các khó khăn, vướng mắc phát sinh, bảo đảm ổn định tình hình tư tưởng Nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Tổ chức bàn giao, tiếp nhận hồ sơ, tài liệu, tài sản, cơ sở vật chất, nhà văn hóa, các thiết chế văn hóa và các công trình phục vụ sinh hoạt cộng đồng giữa các tổ dân phố cũ và mới; thực hiện việc điều chỉnh, cập nhật các thông tin liên quan đến địa giới, tên gọi tổ dân phố mới theo quy định. 

Thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách dôi dư do sắp xếp tổ dân phố theo quy định của Trung ương và của tỉnh; quan tâm động viên, khuyến khích tiếp tục tham gia các hoạt động cộng đồng, các tổ chức tự quản và các phong trào thi đua tại địa phương.

4. Kiến nghị và đề xuất

a) Đối với Trung ương

- Tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của tổ dân phố bảo đảm đồng bộ, thống nhất, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp.

- Có cơ chế, chính sách hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách dôi dư do sắp xếp tổ dân phố; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đội ngũ cán bộ cơ sở bị ảnh hưởng trong quá trình sắp xếp.

- Nghiên cứu ban hành các chính sách khuyến khích, thu hút người có trình độ chuyên môn, kỹ năng công nghệ thông tin tham gia hoạt động ở khu dân cư nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số và cải cách hành chính.

- Quan tâm bố trí nguồn lực từ ngân sách Trung ương để hỗ trợ các địa phương thực hiện sắp xếp tổ dân phố, nhất là việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, thiết chế văn hóa và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ hoạt động của khu dân cư sau sắp xếp.

- Có hướng dẫn cụ thể về mô hình tổ chức, chế độ hoạt động và cơ chế phối hợp của các tổ chức chính trị - xã hội ở khu dân cư sau khi thực hiện sắp xếp tổ dân phố. 

b) Đối với UBND tỉnh

- Quan tâm chỉ đạo các sở, ngành liên quan hướng dẫn, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện Đề án sắp xếp tổ dân phố.

- Bố trí nguồn kinh phí để thực hiện các chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách dôi dư theo quy định; bảo đảm việc chi trả kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng.

- Ban hành các cơ chế hỗ trợ đặc thù nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của tổ dân phố sau sắp xếp; hỗ trợ đầu tư, nâng cấp nhà sinh hoạt cộng đồng, các thiết chế văn hóa, thể thao và hạ tầng phục vụ sinh hoạt của Nhân dân.

- Chỉ đạo các cơ quan chuyên môn hướng dẫn việc kiện toàn tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và công tác quản lý hồ sơ, tài sản, cơ sở vật chất sau sắp xếp.

- Hỗ trợ địa phương trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng quản lý, điều hành, chuyển đổi số cho đội ngũ cán bộ ở tổ dân phố mới sau khi được thành lập. 

Trên đây là Đề án sắp xếp các tổ dân phố thuộc phường Trần phú, UBND phường Trần Phú kính trình HĐND phường xem xét, quyết định./.

Nơi nhận:

- Thường trực Đảng uỷ;

- Thường trực HĐND phường;

- Ban TT UBMTTQ phường;

- Chủ tịch, các PCT UBND phường;

- Công an phường;

- BCH Quân sự phường;

- Các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp;

- Các tổ dân phố;

- Lưu: VT, VH-XH.

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

 

 

 

 

 

 

Nguyễn Đình Diệu

binh-luan

chua-co-binh-luan-nao