Nghị định gồm 6 chương 48 điều quy định cụ thể các hành vi vi phạm hành chính; hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; đối tượng bị xử phạt; thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh và thẩm quyền lập biên bản đối với vi phạm hành chính; việc thi hành các hình thức xử phạt vi phạm hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả trong lĩnh vực bảo trợ, trợ giúp xã hội và trẻ em. Những quy định mới của Nghị định không chỉ nâng cao tính răn đe mà còn thể hiện rõ định hướng bảo vệ quyền con người, đặc biệt là trẻ em và các nhóm yếu thế trong xã hội:
1. Hoàn thiện hệ thống pháp lý, mở rộng phạm vi điều chỉnh
So với Nghị định số 130/2021/NĐ-CP, Nghị định số 98/2026/NĐ-CP đã được xây dựng theo hướng hệ thống, toàn diện hơn, bao quát đầy đủ các hành vi vi phạm phát sinh trong thực tiễn. Ngay tại Điều 1 và Điều 2 của Nghị định 98/2026/NĐ-CP đã xác định rõ phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng, mở rộng đến cả tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, đồng thời làm rõ trách nhiệm của các cơ sở trợ giúp xã hội, cơ sở bảo vệ trẻ em và các tổ chức có liên quan.
Điểm mới đáng chú ý là Nghị định đã bổ sung cơ chế xử lý vi phạm trên môi trường điện tử, qua đó khắc phục khoảng trống pháp lý trước đây khi nhiều hành vi xâm hại trẻ em diễn ra trên không gian mạng nhưng chưa được điều chỉnh đầy đủ.
2. Tăng mạnh mức xử phạt, cụ thể hóa theo từng điều khoản
Một trong những thay đổi căn bản của Nghị định số 98/2026/NĐ-CP là việc điều chỉnh tăng mức xử phạt đối với nhiều hành vi vi phạm, đồng thời quy định chi tiết theo từng điều khoản.
Theo Điều 6 của Nghị định số 98/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực này được nâng lên đến 50 triệu đồng đối với cá nhân và 100 triệu đồng đối với tổ chức, cao hơn đáng kể so với khung xử phạt của Nghị định số 130/2021/NĐ-CP.
Đối với hành vi gian dối để hưởng chính sách trợ giúp xã hội, Điều 7 của Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định mức phạt từ 500.000 đồng đến 5.000.000 đồng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, đồng thời buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp.
Đặc biệt, tại Điều 8, các hành vi xâm phạm quyền của nạn nhân bị mua bán người được quy định cụ thể với mức xử phạt tăng đáng kể. Hành vi tiết lộ thông tin cá nhân của nạn nhân có thể bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, đồng thời buộc gỡ bỏ thông tin vi phạm.
Đối với nhóm hành vi liên quan trực tiếp đến trẻ em, Điều 24 của Nghị định số 98/2026/NĐ-CP quy định mức xử phạt từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với các hành vi bóc lột, lợi dụng trẻ em. Cụ thể, hành vi ép buộc trẻ em đi xin ăn hoặc sử dụng trẻ em để trục lợi bị phạt từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng, trong khi hành vi lợi dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của trẻ em có thể bị xử phạt lên đến 50.000.000 đồng.
So với Nghị định số 130/2021/NĐ-CP, các mức xử phạt này đã được điều chỉnh tăng mạnh, thể hiện rõ quan điểm xử lý nghiêm các hành vi xâm hại trẻ em và bảo vệ quyền lợi của nhóm yếu thế.
3. Bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả mang tính thực chất
Không chỉ dừng lại ở việc tăng mức xử phạt, Nghị định số 98/2026/NĐ-CP còn bổ sung nhiều biện pháp khắc phục hậu quả mang tính thực chất (tại Điều 5). Theo đó, ngoài các hình thức xử phạt chính và bổ sung, người vi phạm còn có thể bị buộc hoàn trả số tiền đã thu trái pháp luật, buộc chi trả chi phí khám chữa bệnh, buộc gỡ bỏ thông tin vi phạm trên môi trường mạng hoặc buộc xin lỗi công khai khi có yêu cầu.
So với quy định tại Nghị định số 130/2021/NĐ-CP, các biện pháp này được quy định cụ thể hơn, có tính khả thi cao hơn, góp phần bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm hại.
4. Siết chặt trách nhiệm của cơ sở trợ giúp xã hội và cá nhân liên quan
Nghị định số 98/2026/NĐ-CP cũng thể hiện rõ sự thay đổi trong cách tiếp cận quản lý khi quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ sở trợ giúp xã hội và cá nhân tham gia chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội.
Tại Điều 9, các hành vi ngược đãi, ép buộc lao động, lợi dụng việc chăm sóc để trục lợi bị xử phạt từ 10.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng. Đồng thời, các hành vi vi phạm về hoạt động của cơ sở trợ giúp xã hội tại Điều 10 cũng bị xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng, kèm theo các biện pháp buộc khắc phục điều kiện cơ sở vật chất, hoàn trả tiền thu trái quy định.
Những quy định này đã khắc phục hạn chế của Nghị định số 130/2021/NĐ-CP khi chưa làm rõ trách nhiệm và chế tài đối với các chủ thể trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ bảo trợ xã hội./.
