Học bạ số được xác lập giá trị pháp lý như học bạ giấy, từng bước thay đổi cách quản lý hồ sơ học tập

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 70/2026/TT-BGDĐT quy định về quản lý và sử dụng học bạ số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên, tạo cơ sở pháp lý thống nhất cho việc số hóa, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu học tập của người học. Đáng chú ý, học bạ số được tạo lập, xác thực, ký số và phát hành đúng quy định có giá trị pháp lý như học bạ giấy.

anh tin bai

Tạo lập một học bạ số duy nhất cho mỗi người học

Thông tư quy định mỗi người học thuộc đối tượng áp dụng được tạo lập một học bạ số duy nhất, gắn với mã số hồ sơ học tập suốt đời. Việc tạo lập được thực hiện trên hệ thống thông tin, phần mềm quản lý hoặc nền tảng số đáp ứng yêu cầu kỹ thuật theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Dữ liệu hình thành học bạ số phải được kiểm tra, đối chiếu và xác thực từ hồ sơ người học, dữ liệu định danh và dữ liệu quản lý giáo dục của cơ sở giáo dục. Việc tạo lập được thực hiện theo từng năm học, bảo đảm phù hợp với hoạt động giáo dục tại địa phương.

Đặc biệt, sau khi học bạ số được ký số và phát hành, không được chỉnh sửa trực tiếp trên bản đã phát hành. Trường hợp cần thay đổi nội dung, cơ sở giáo dục phải thực hiện thu hồi và tạo lập lại theo đúng quy định.

Học bạ số có giá trị pháp lý như học bạ giấy

Một trong những điểm đáng chú ý của Thông tư là quy định rõ giá trị pháp lý của học bạ số.

Theo đó, học bạ số có giá trị pháp lý khi được tạo lập, cập nhật, xác thực, ký số và phát hành đúng quy định. Học bạ số được tạo lập đúng thẩm quyền, đúng quy trình, đúng chuẩn dữ liệu, đầy đủ nội dung và được ký số hợp lệ có giá trị pháp lý như học bạ giấy, được sử dụng trong quản lý giáo dục, thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch hợp pháp có liên quan.

Quy định này tạo nền tảng để giảm dần sự phụ thuộc vào hồ sơ giấy, đồng thời mở rộng khả năng sử dụng dữ liệu học tập trong môi trường số một cách chính thức, thống nhất và có thể kiểm chứng.

Ký số chặt chẽ, xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể

Thông tư quy định việc ký số học bạ số phải được thực hiện theo cơ chế ký số của cá nhân có thẩm quyền và ký số của cơ sở giáo dục; chỉ phát hành học bạ số sau khi hoàn thành kiểm tra, xác thực dữ liệu và ký số hợp lệ.

Người có thẩm quyền ký số có thể là giáo viên môn học, giáo viên phụ trách hoạt động giáo dục, giáo viên chủ nhiệm, người đứng đầu cơ sở giáo dục hoặc người được phân công, ủy quyền theo quy định.

Quy trình ký số được thực hiện theo các bước: hoàn thiện dữ liệu - kiểm tra, đối chiếu, xác nhận - ký số của cá nhân có thẩm quyền - ký số của cơ sở giáo dục - cập nhật trạng thái ký số trên hệ thống.

Qua đó, trách nhiệm đối với tính chính xác, đầy đủ và hợp lệ của dữ liệu học bạ số được gắn cụ thể với từng cá nhân, bộ phận và cơ sở giáo dục, hạn chế nguy cơ sai sót trong quá trình tạo lập và phát hành.

Người học, cha mẹ học sinh được tăng quyền tiếp cận và kiểm soát dữ liệu

Thông tư xác định người học là chủ thể của dữ liệu học bạ số, đồng thời quy định quyền của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với học bạ số của người học chưa thành niên.

Người học được truy cập, tra cứu, khai thác học bạ số của mình; yêu cầu cơ sở giáo dục kiểm tra, chỉnh sửa dữ liệu khi phát hiện sai sót; sử dụng học bạ số hợp pháp trong các giao dịch, thủ tục hành chính và được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp liên quan đến dữ liệu cá nhân.

Đối với cha, mẹ hoặc người giám hộ của người học chưa thành niên, Thông tư cho phép xem dữ liệu học bạ số, theo dõi kết quả học tập, rèn luyện và đề nghị cơ sở giáo dục kiểm tra dữ liệu khi có căn cứ.

Đây là cơ sở quan trọng để người học và gia đình chủ động hơn trong việc theo dõi, kiểm tra và bảo vệ thông tin học tập, thay vì chỉ tiếp cận hồ sơ khi có nhu cầu phát sinh.

Không được yêu cầu nộp thêm học bạ giấy khi dữ liệu đã đáp ứng điều kiện

Học bạ số được phép sử dụng trong tuyển sinh, chuyển trường, xác minh thông tin học tập, xét hoàn thành chương trình, xét lên lớp, đồng thời phục vụ lưu trữ, quản lý giáo dục, thống kê, phân tích, đánh giá chất lượng, tư vấn và định hướng nghề nghiệp.

Đáng chú ý, khi học bạ số, bản điện tử hoặc bản trích lục điện tử đã đáp ứng đầy đủ điều kiện theo Thông tư, cơ quan, tổ chức tiếp nhận dữ liệu không được yêu cầu người học nộp thêm học bạ giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Quy định này góp phần cắt giảm giấy tờ trong thực hiện thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người học và nâng cao hiệu quả khai thác dữ liệu trong quản lý nhà nước về giáo dục.

Kết nối với cơ sở dữ liệu quốc gia, VNeID và các nền tảng số liên quan

Theo Thông tư, dữ liệu học bạ số tại các cơ sở giáo dục phải được kết nối, đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo theo chuẩn dữ liệu, chuẩn kỹ thuật do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.

Dữ liệu cũng phải bảo đảm khả năng tích hợp, khai thác trên Nền tảng số giáo dục quốc gia, Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng định danh quốc gia VNeID và các hệ thống thông tin có liên quan.

Yêu cầu này đặt học bạ số trong một hệ sinh thái dữ liệu giáo dục thống nhất, hướng tới liên thông, chia sẻ và khai thác dữ liệu thuận tiện hơn, giảm việc cung cấp lại thông tin đã có trong hệ thống.

Bảo mật dữ liệu học tập là yêu cầu xuyên suốt

Cùng với thúc đẩy khai thác dữ liệu, Thông tư đặt yêu cầu cao đối với an toàn thông tin, bảo mật và bảo vệ dữ liệu cá nhân của người học.

Dữ liệu học bạ số phải được bảo mật trong toàn bộ quá trình tạo lập, cập nhật, lưu trữ, truyền nhận, khai thác, sử dụng và chia sẻ. Các chủ thể có liên quan phải bảo mật tài khoản, phương tiện xác thực và chữ ký số; phân quyền truy cập theo vị trí việc làm, nhiệm vụ; đồng thời có biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi truy cập trái phép.

Thông tư đồng thời nghiêm cấm truy cập trái phép; sửa, xóa, làm sai lệch dữ liệu; tiết lộ, chia sẻ, mua bán, sử dụng trái phép dữ liệu học bạ số; giả mạo chữ ký số, xác thực hoặc bản điện tử, bản trích lục điện tử học bạ số.

Tăng trách nhiệm của cơ sở giáo dục và chính quyền địa phương

Để học bạ số thực sự đi vào vận hành, Thông tư quy định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng chủ thể.

Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức triển khai; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các cơ sở giáo dục; bảo đảm điều kiện kỹ thuật, an toàn thông tin và hỗ trợ triển khai tại địa phương.

UBND cấp xã phối hợp với cơ quan quản lý giáo dục và các cơ sở giáo dục tổ chức triển khai; tuyên truyền, hướng dẫn người học và cha mẹ, người giám hộ; phối hợp xác minh thông tin nhân thân, cư trú khi có yêu cầu hợp pháp; đồng thời bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân trong phạm vi thẩm quyền.

Đối với cơ sở giáo dục, trách nhiệm được quy định xuyên suốt từ tạo lập, cập nhật, chuẩn hóa, kiểm tra, xác thực, ký số, phát hành đến lưu trữ, khai thác và bảo vệ dữ liệu. Đơn vị phải phân công rõ cá nhân, bộ phận chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan quản lý cấp trên về tính chính xác, đầy đủ, hợp lệ và an toàn của dữ liệu học bạ số do mình tạo lập, quản lý, phát hành và khai thác.

Chuẩn bị nền tảng cho hồ sơ học tập suốt đời

Theo quy định chuyển tiếp, học bạ giấy đã được lập trước ngày Thông tư có hiệu lực vẫn tiếp tục có giá trị sử dụng theo quy định của pháp luật. Kể từ ngày Thông tư có hiệu lực, cơ sở giáo dục thực hiện tạo lập học bạ số đối với người học đang theo học và người học mới theo quy định.

Việc số hóa, chuẩn hóa và cập nhật dữ liệu học bạ giấy, dữ liệu học tập hiện có để tạo lập học bạ số được thực hiện theo lộ trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn, ưu tiên đối với người học đang theo học và những trường hợp thường xuyên phát sinh thủ tục hành chính.

Thông tư số 70/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành từ ngày 04/10/2026 theo nội dung thể hiện tại Điều 24 của văn bản. Việc triển khai học bạ số không chỉ là thay thế một loại hồ sơ giấy bằng dữ liệu điện tử, mà còn hướng tới hình thành nền tảng dữ liệu học tập thống nhất, có giá trị pháp lý, có khả năng kết nối, chia sẻ và phục vụ người học trong suốt quá trình học tập.

Với yêu cầu “đúng dữ liệu - đúng thẩm quyền - đúng mục đích - an toàn và có thể kiểm chứng”, việc quản lý và sử dụng học bạ số được kỳ vọng góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục, cải cách thủ tục hành chính, giảm giấy tờ và nâng cao chất lượng quản trị giáo dục trong giai đoạn mới.

Tệp đính kèm:
Thngt702026TTBGDT1.pdf
Xem trước tệp đính kèm

Bình luận bài viết

Chưa có bình luận nào.

Xem nhiều nhất