Những điểm mới trong đánh giá học sinh tiểu học, THCS và THPT từ ngày 01/12/2026
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 89/2026/TT-BGDĐT ngày 16/10/2026 sửa đổi, bổ sung quy định về đánh giá học sinh tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Có hiệu lực từ ngày 01/12/2026, Thông tư bổ sung nhiều nội dung liên quan đến học bạ số, kiểm tra định kỳ chung ở lớp cuối cấp, kiểm tra trên máy tính và bảo đảm quyền lợi của học sinh trong quá trình đánh giá.
1. Sử dụng học bạ số trong hồ sơ đánh giá học sinh
Thông tư số 89/2026/TT-BGDĐT sửa đổi, bổ sung Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT và Quy định về đánh giá học sinh THCS, THPT ban hành kèm theo Thông tư số 22/2021/TT-BGDĐT.
Một điểm mới đáng chú ý là xác định học bạ số là thành phần của hồ sơ đánh giá học sinh. Đối với cấp tiểu học, hồ sơ đánh giá từng năm học gồm học bạ số và bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp. Các nhận xét, kết quả tổng hợp đánh giá giáo dục và thành tích được khen thưởng trong năm học được cập nhật vào học bạ số.
Giáo viên môn học chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu kết quả học tập thuộc môn học, hoạt động giáo dục được phân công và trực tiếp ký số xác nhận. Giáo viên chủ nhiệm ký số xác nhận học bạ số của lớp sau khi giáo viên môn học hoàn thành ký số.
Đối với cấp THCS, THPT, thông tin và nội dung đánh giá tại mẫu học bạ là căn cứ xác định nội dung chuyên môn của học bạ số. Những hướng dẫn về ghi bằng bút, sửa chữa bằng bút mực đỏ, ký và đóng dấu trực tiếp chỉ áp dụng đối với học bạ giấy được tiếp tục sử dụng trong thời gian chuyển tiếp.

2. Có đề kiểm tra định kỳ chung đối với một số môn học ở lớp cuối cấp
Theo quy định mới, Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng, thẩm định và cung cấp đề kiểm tra định kỳ chung cho các cơ sở giáo dục trên địa bàn đối với một số môn học đánh giá bằng điểm số do Sở lựa chọn.
Thời điểm thực hiện gồm:
- Lớp 5: Cuối học kỳ I và cuối năm học.
- Lớp 9, lớp 12: Cuối học kỳ I và cuối học kỳ II.
Việc kiểm tra phải được thông báo; đề kiểm tra phải phù hợp với yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông, bảo đảm thống nhất giữa các cơ sở giáo dục cùng cấp học.
Nhà trường tổ chức coi, chấm, tổng hợp kết quả và chịu trách nhiệm về kết quả kiểm tra, đánh giá học sinh của trường; tự xây dựng đề đối với các môn học, thời điểm kiểm tra và khối lớp còn lại theo quy định.
3. Cho phép kiểm tra định kỳ trên máy tính ở cấp THCS, THPT
Đối với cấp THCS và THPT, nhà trường được tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ trên máy tính khi đáp ứng đầy đủ điều kiện về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin, phần mềm và vận hành theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Nhà trường phải thông báo trước cho học sinh, cha mẹ học sinh về hình thức kiểm tra và yêu cầu kỹ thuật. Bài làm, kết quả kiểm tra trên máy tính có giá trị pháp lý tương đương bài làm trên giấy khi đáp ứng yêu cầu về tính toàn vẹn, xác thực, bảo mật, lưu trữ và truy xuất theo pháp luật về giao dịch điện tử.
Học sinh khuyết tật được điều chỉnh hợp lý khi kiểm tra trên máy tính. Trường hợp không thể tham gia dù đã được điều chỉnh, học sinh được kiểm tra trên giấy hoặc bằng hình thức phù hợp khác, với kết quả có giá trị tương đương.
4. Đánh giá học sinh khuyết tật dựa trên sự tiến bộ của chính học sinh
Thông tư tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền học tập và sự công bằng đối với học sinh khuyết tật. Việc đánh giá phải động viên, khuyến khích sự cố gắng, ghi nhận sự tiến bộ của từng học sinh, không so sánh với học sinh khác.
Đối với môn học, hoạt động giáo dục mà học sinh được miễn trong kế hoạch giáo dục cá nhân, học sinh được miễn kiểm tra, đánh giá và ghi “Miễn” trong học bạ số. Kết quả giáo dục kỹ năng đặc thù được đánh giá như một hoạt động giáo dục.
Nhà trường, giáo viên cần căn cứ khả năng đáp ứng của học sinh và kế hoạch giáo dục cá nhân để thực hiện đánh giá phù hợp, giúp học sinh có cơ hội phát triển năng lực.
5. Đánh giá phù hợp đối với học sinh có hoàn cảnh khó khăn
Đối với học sinh học tại lớp dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện đi học ở trường, việc đánh giá được thực hiện trên cơ sở nhận xét, đánh giá thường xuyên và kết quả đánh giá định kỳ phù hợp.
Ở cấp tiểu học, giáo viên căn cứ kết quả đối với môn Toán, môn Tiếng Việt. Ở cấp THCS, giáo viên căn cứ kết quả môn Ngữ văn, môn Toán và các môn học khác mà học sinh có khả năng tham gia.
Quy định này tạo cơ sở để ghi nhận kết quả học tập phù hợp với điều kiện thực tế của người học, góp phần bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục.

6. Ghi nhận sự tiến bộ của học sinh sau khi chấp hành kỷ luật
Đối với học sinh THCS, THPT trong thời hạn chấp hành kỷ luật, giáo viên chủ nhiệm phối hợp với gia đình động viên, giúp đỡ học sinh rèn luyện.
Sau khi học sinh hoàn thành việc chấp hành quyết định kỷ luật và được nhà trường công nhận, giáo viên chủ nhiệm đánh giá lại kết quả rèn luyện, ghi nhận sự cố gắng, tiến bộ của học sinh.
Thông tư cũng bổ sung trường hợp học sinh có kết quả rèn luyện cả năm học mức Chưa đạt, nhưng sau rèn luyện trong kỳ nghỉ hè được đánh giá từ mức Đạt trở lên, thuộc đối tượng được đánh giá lại kết quả học tập theo quy định. Kết quả đánh giá lại của từng môn học được sử dụng thay thế kết quả cả năm học của môn đó để xét lên lớp.
Thông tư có hiệu lực từ ngày 01/12/2026. Đối với học bạ giấy đã lập trước thời điểm này, nhà trường tiếp tục lưu trữ theo quy định về lưu trữ; việc cập nhật nội dung đánh giá phát sinh sau thời điểm Thông tư có hiệu lực được thực hiện trên học bạ số.
Trong thời gian chưa đáp ứng điều kiện kỹ thuật để triển khai học bạ số, cơ sở giáo dục tiếp tục sử dụng học bạ giấy theo quy định chuyển tiếp của Thông tư. Vì vậy, việc triển khai cần gắn với điều kiện thực tế, bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ và không ảnh hưởng đến quyền lợi của học sinh.
Thông tin chỉ đạo, điều hành